Nhìn lại giai đoạn lịch sử 1964-1967 của Việt Nam Cộng hòa

Hình ảnh người dân đi xe máy tại Sài Gòn (ảnh chụp vào tháng 10/1967)
Chụp lại hình ảnh, Hình ảnh người dân đi xe máy tại Sài Gòn (ảnh chụp vào tháng 10/1967)
    • Tác giả, Bùi Văn Phú
    • Vai trò, Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Berkeley, California
  • Được đăng
  • Thời gian đọc: 8 phút

Sau Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước Việt Nam tại Vĩ tuyến 17, một quốc gia mới mang tên Việt Nam Cộng hòa ra đời, là vùng lãnh thổ từ cầu Hiền Lương bắc ngang sông Bến Hải kéo dài đến Mũi Cà Mau.

Trong 20 năm hiện hữu, quốc gia này đã trải qua nhiều biến động chính trị và khủng hoảng lãnh đạo mà giai đoạn xáo trộn nhất là từ 1964 đến 1967 với 5 chính phủ được thành lập trong bối cảnh sinh hoạt chính trị có nhiều phe nhóm tranh giành ảnh hưởng.

Vì sao và những đảng phái chính trị, tổ chức tôn giáo, xã hội dân sự nào đã tạo nên những bất ổn chính trị trong giai đoạn này?

Đó là đề tài của buổi nói chuyện do Trung tâm Đông Nam Á học, Đại học U.C. Berkeley tổ chức hôm 25/9, chủ đề "Rethinking the Republican Interregnum in South Vietnam" – Nhìn lại giai đoạn chuyển tiếp của nền cộng hòa ở Nam Việt Nam, với diễn giả là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Ý đến từ tại Đại học California State University, Dominguez Hills.

Theo giới thiệu đầu chương trình của Giáo sư Peter Zinoman từ khoa Sử, Đại học U.C. Berkeley, Phó Giáo sư Nguyễn Thiện Ý tốt nghiệp tiến sĩ xã hội học từ Đại học Northwestern, bang Illinois.

Ông hiện giảng dạy về người Mỹ gốc châu Á-Thái Bình Dương và chuyên nghiên cứu về xã hội Việt Nam đương đại, về cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ và đã có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành.

Tiến sĩ Ý còn là thành viên trong hội đồng quản trị, ban biên tập của các tổ chức, trung tâm nghiên cứu như Vietnam Heritage Museum (Bảo tàng Di sản Việt Nam), US-Vietnam Research Center (Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ-Việt Nam) tại Đại học Oregon, Eugene.

Bài nói chuyện của Phó Giáo sư Nguyễn Thiện Ý chú trọng đến 5 chính phủ được thành lập kể từ 2/11/1963 sau khi đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm thành công, cho đến 31/10/1967 khi Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ nhậm chức tổng thống đầu tiên của nền đệ nhị cộng hòa theo Hiến pháp mới, ban hành ngày 1/4/1967.

Năm chính phủ đã được thành lập từ sau Cách mạng 1/11/1963 là chính phủ của các thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát và Nguyễn Cao Kỳ.

Sự sắp xếp các con bài chính trị khi đó bị chi phối bởi các tướng lĩnh, các tôn giáo, tổ chức sinh viên và ảnh hưởng của Pháp và Mỹ.

Sau đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, Tổng thống Pháp Charles De Gaulle đưa ra đề nghị trung lập cho hai miền Việt Nam, tức thì có những cuộc biểu tình phản đối diễn ra tại Sài Gòn.

Ngày 30/1/1964 Đại tướng Nguyễn Khánh công bố Hiến chương Vũng Tàu, đảo chánh hạ bệ Trung tướng Dương Văn Minh – Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng sau đảo chánh 1/11, cùng Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ – cựu Phó Tổng thống của Ngô Đình Diệm.

Năm 1964 là thời gian có nhiều biến động chính trị. Tướng Nguyễn Khánh cầm quyền không được bao lâu thì bị dân chúng, đặc biệt là thành phần sinh viên, phản đối và phải bỏ nước sang Pháp sống lưu vong.

Người biểu tình ở Sài Gòn vào ngày 1/9/1964 giơ biểu ngữ phản đối chế độ độc tài của tướng Nguyễn Khánh
Chụp lại hình ảnh, Người biểu tình ở Sài Gòn vào ngày 1/9/1964 giơ biểu ngữ phản đối chế độ độc tài của tướng Nguyễn Khánh

Các chính phủ dân sự được thành lập.

Quốc trưởng Phan Khắc Sửu là người đứng đầu quốc gia, với Thủ tướng Trần Văn Hương rồi Thủ tướng Phan Huy Quát điều hành chính sách, nhưng không đủ mạnh để ổn định tình hình, dân chúng tiếp tục xuống đường trong khi cộng sản gia tăng các hoạt động quân sự, phá hoại nên vào tháng 6/1965 các tướng quân đội đã được trao quyền lãnh đạo, với Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tương đương với quốc trưởng và thủ tướng.

Tướng Kỳ đã ra tay dẹp các cuộc biểu tình, nổi loạn của phật tử ở Đà Nẵng, người bị cáo buộc đầu cơ tích trữ nhu yếu phẩm làm xáo trộn dân sinh bị đem ra xử bắn.

Để chuyển giao quyền hành theo tiến trình dân chủ, quốc hội lập hiến được bầu ra trong năm 1966, soạn thảo hiến pháp mới cho nền đệ nhị cộng hòa ban hành ngày 1/4/1967, tiếp theo là các cuộc bầu cử quốc hội và tổng thống vào tháng 9 và tháng 10/1967.

Theo diễn giả, sinh viên, báo chí và các lãnh đạo tôn giáo đã có nhiều ảnh hưởng chính trị trong thời gian này. Các thượng tọa Quảng Liên và Tâm Châu bên Phật giáo, linh mục Hoàng Quỳnh bên Công giáo, là những người có lập trường chống cộng. Không nghe diễn giả nhắc đến thượng tọa Trí Quang.

Báo chí, sau thời gian bị giới hạn tự do dưới chế độ Ngô Đình Diệm, cũng đã góp phần vào những thay đổi chính phủ và xiển dương tinh thần chống cộng khi trên báo có những khẩu hiệu: "Không có hòa bình khi còn Việt cộng", "Hòa bình cộng sản là hòa bình trong nô lệ".

Tổng thống Ngô Đình Diệm tại bàn làm việc ở Dinh Độc Lập ở Sài Gòn trong bức hình chụp ngày 22/3/1958
Chụp lại hình ảnh, Tổng thống Ngô Đình Diệm tại bàn làm việc ở Dinh Độc Lập ở Sài Gòn trong bức hình chụp ngày 22/3/1958

Qua phần thảo luận, một câu hỏi là có động lực nào thúc đẩy diễn giả chọn nghiên cứu về giai đoạn này của miền Nam Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Thiện Ý nói rằng ông nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Mỹ, mà muốn hiểu được họ thì cần phải hiểu lịch sử của họ.

Hỏi về sự xâm nhập hay gài người của cộng sản vào các phong trào đấu tranh, diễn giả cho rằng đây là một đề tài đáng được nghiên cứu.

Về ảnh hưởng của xáo động chính trị đối với tinh thần chiến đấu của quân đội, ông nói ông không phải là một nhà nghiên cứu về quân sử nên không có câu trả lời.

Hỏi ông vì sao kết quả bầu cử quốc hội đầu tiên theo Hiến pháp 1967 có nhiều người Công giáo thắng cử, 30%, trong khi Công giáo chỉ chiếm 10% dân số. Diễn giả cho biết có nhánh của Phật giáo kêu gọi tẩy chay bầu cử.

Tôi hỏi thêm diễn giả là có phải vì Washington muốn đem lính chiến đấu vào Việt Nam mà Ngô Đình Diệm không muốn nên đã bị lật đổ. Các chính phủ sau đó cũng không thật sự chống cộng nên không yêu cầu Washington đưa quân vào.

Tháng 3/1965, lính Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng mà Thủ tướng Phan Huy Quát cũng không được thông báo trước, tôi nhắc lại điều ông Bùi Diễm, lúc đó là Đại sứ tại Hoa Kỳ, đã viết trong sách In the Jaw of History của ông.

Tiến sĩ Nguyễn Thiện Ý nói rằng ông Diễm viết không đúng vì trước đó trong giới tướng lãnh quân đội đã có thảo luận với phía Mỹ về việc đem lính chiến đấu vào miền Nam Việt Nam.

Buổi diễn thuyết có đông sinh viên tham dự, nhiều bạn đang học thạc sĩ hay tiến sĩ và có nhiều quan tâm đến chủ đề về Việt Nam Cộng hòa.

Đây cũng là những nối tiếp của sinh hoạt học thuật liên quan đến Việt Nam Cộng hòa trong trường Đại học U.C. Berkeley, kể từ hội nghị chủ đề "Nation-Building in War: The Experience of Republican Vietnam, 1955-1975" (Kinh nghiệm kiến quốc của Việt Nam Cộng hòa, 1955-1975) được tổ chức vào tháng 10/2016.

Việt Nam từ 1930 đến nay, hay Việt Nam Cộng hòa nói riêng, là những chủ đề đã được sinh viên đại học này quan tâm nghiên cứu trong 30 năm qua nhờ có giáo sư sử học Peter Zinoman khuyến khích.

Đến nay đã có nhiều tiến sĩ chuyên về sử Việt tốt nghiệp từ đây và đang giảng dạy, nghiên cứu tại nhiều đại học Hoa Kỳ.

Mới đây, Đại học U.C. Berkeley đã nhận được sự hỗ trợ tài chính của ông bà Nguyễn Đức Cường để khuyến khích sinh viên quan tâm nghiên cứu về nền cộng hòa tại Việt Nam.

Được biết ông Nguyễn Đức Cường là Tổng trưởng Thương mại và Kỹ nghệ trong chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

  • Tác giả Bùi Văn Phú tốt nghiệp Đại học U.C. Berkeley, hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California, Hoa Kỳ.