'Đế chế bị lãng quên': Khi Nga đô hộ California

Được đăng
Thời gian đọc: 15 phút

Trong gần 30 năm, một phần Sonoma nằm dưới sự cai trị của nước Nga Sa hoàng, và nơi đây đóng một vai trò then chốt – dù ít được biết đến – trong việc định hình nước Mỹ.

Từ San Francisco lái xe về phía bắc đến Fort Ross (Крѣпость Россъ) mất hai giờ, qua một cung đường đẹp.

Sau khi xuyên qua màn sương ở Cổng Vàng, tôi đi qua những vườn nho cháy nắng đến vùng bờ biển hẻo lánh của Sonoma và hạ cửa kính xe.

Bên trái tôi, California đổ dốc thẳng xuống Thái Bình Dương, nơi những chú hải cẩu sủa vang từ những tảng đá nhô lên giữa những lớp sóng trắng xóa. những vách đá dựng đứng vươn cao, còn những cây tùng đỏ khổng lồ vươn thẳng lên từ những đoạn đường quanh co ngoằn ngoèo.

Đột nhiên, một nhà nguyện đơn độc với hai mái vòm, trên đỉnh là những cây thánh giá Chính thống giáo hiện ra trên nền đại dương xanh.

Tôi bước ra khỏi xe và đi theo một con đường mòn, ngang qua một biển báo chữ Cyrillic, hướng về phía một pháo đài bằng gỗ, mang dáng dấp pháo đài thời kỳ biên giới, được xây dựng ở độ cao 46 mét trên đỉnh một vách đá nhô ra biển.

"Chào mừng đến với Pháo đài Ross (Крѣпость Россъ), vùng cực nam của Đế quốc Nga," Chris Kimsey, một nhà khảo cổ học của Công viên Tiểu bang California, nói.

Hằng năm, hàng triệu du khách bắt đầu hành trình trên tuyến đường cao tốc ven biển Thái Bình Dương, một trong những con đường ngoạn mục nhất nước Mỹ, ôm trọn toàn bộ bờ biển California.

Nhưng rất có thể, ít người trong số những du khách lái xe đường dài này nhận ra rằng ẩn mình tại một mũi đất hẻo lánh cách San Francisco 145km về phía bắc là một di tích từ thời kỳ mà một phần California nằm dưới sự cai trị của nước Nga Sa hoàng.

Tôi thì không biết điều đó, và xét vẻ vắng lặng đến kỳ lạ của Pháo đài Ross, dường như tôi không phải là người duy nhất.

"Ngay cả hầu hết người California cũng không biết rằng Nga từng có một thuộc địa ở California," Kent Lightfoot, một nhà nhân chủng học tại Đại học California, Berkeley, sau đó nói với tôi. "Họ đều biết về người Tây Ban Nha và người Mexico, nhưng hầu như không ai biết gì về việc người Nga từng ở đây. Nó giống như một đế chế bị lãng quên."

Mặc dù một số người Mỹ có thể nhớ rằng Alaska, bang lớn nhất của Mỹ, từng thuộc về Nga trong gần 70 năm, thuộc địa hải ngoại lâu dài duy nhất của Đế quốc Nga, được gọi là Russian America (phần châu Mỹ của nước Nga), cũng từng mở rộng tới California trong giai đoạn 1812-1842.

Trên thực tế, người Nga đã định cư tại California từ nhiều thập niên trước khi những người Mỹ của quốc gia mới giành độc lập đến sinh sống tại đây.

Pháo đài Ross (viết tắt của Rossiya, nghĩa là "Nga"), mang tính đột phá và đa văn hóa một cách đáng kinh ngạc, được dự định trở thành vựa lương thực cho các khu định cư đang gặp khó khăn của Nga ở Alaska, nhưng nó cũng trở thành nguồn gốc những kế hoạch bành trướng của Nga trên khắp Bắc Mỹ, vốn gây ra nhiều tranh cãi gay gắt.

Khởi nguồn phần châu Mỹ của nước Nga

Khi các cường quốc châu Âu bành trướng về phía tây vào thế kỷ 15 và 16, Nga lại bành trướng về phía đông.

Đến những năm 1640, các thương nhân buôn lông thú và lính đánh thuê người Nga đã tràn qua Siberia để đến bờ biển Thái Bình Dương.

Cuộc chạy đua này đã dẫn đến việc hình thành các khu định cư lâu dài của người Nga dọc theo các đảo và bờ biển Alaska.

Năm 1799, Sa hoàng Paul I chính thức hóa các tuyên bố chủ quyền của đế quốc đối với Alaska bằng cách thành lập Công ty Nga-Mỹ.

Được mô phỏng theo Công ty Đông Ấn Anh, liên doanh vì lợi nhuận này không chỉ kiểm soát việc buôn bán lông thú mà còn kiểm soát toàn bộ Alaska như một thuộc địa do doanh nghiệp quản lý.

Nhưng có một vấn đề: trong khi công ty này làm giàu nhờ lông rái cá biển, những người định cư lại ngày càng đói vì họ không thể canh tác trên phần lớn vùng đất băng giá của Alaska.

Vì vậy, những người định cư Nga đã giong buồm về phía nam để tìm kiếm nơi có khí hậu ấm áp hơn và các đối tác thương mại Tây Ban Nha.

Giấc mơ California

Vào tháng 4/1806, khi thuộc địa của mình bị nạn đói đe dọa và thủy thủ đoàn bị suy giảm nghiêm trọng do bệnh scorbut (chứng bệnh thiếu hụt vitamin C nghiêm trọng), giám đốc Công ty Nga-Mỹ Nikolai Rezanov đã lái con tàu Juno tiến vào Vịnh San Francisco.

Khi con tàu hai cột buồm chật vật tiến về khu định cư cực bắc của Tây Ban Nha ở California, một người línhTây Ban Nha đã dùng loa phóng thanh yêu cầu tàu lạ xưng danh.

"Nga," một giọng nói đáp lại.

Đó là câu trả lời mà người Tây Ban Nha đã dự liệu gần 40 năm.

Mặc dù tuyên bố toàn bộ California thuộc về mình từ năm 1542, thực tế phải đến năm 1769 Tây Ban Nha mới chiếm đóng vùng đất này, sau khi nhận được tin những thương nhân buôn lông thú Nga đang nhanh chóng tiến về phía đông qua các đảo của Alaska.

Để ngăn chặn Nga và Anh tiến quân, Tây Ban Nha lập một chuỗi các đồn quân sự dọc theo bờ biển, bắt đầu từ San Diego.

"Xét trên nhiều phương diện, sự mở rộng của toàn bộ Alta [Thượng] California được người Nga thúc đẩy," Lightfoot nói. "Người Tây Ban Nha lo lắng về việc người Nga tiến xuống phía nam. Vì vậy, việc thành lập San Diego, Santa Barbara, Monterey và San Francisco là một phản ứng trước người Nga ở Alaska."

Trong thời gian sáu tuần lưu trú tại San Francisco, vị chính khách 42 tuổi – ông Rezanov – bảo đảm đủ lương thực từ phía Tây Ban Nha để cứu những người thực dân đang chết đói ở Alaska, bằng cách đính hôn với cô con gái 15 tuổi của chỉ huy quân sự Tây Ban Nha tại San Francisco.

Khi đi thuyền trở lại qua Cổng Vàng, Rezanov nhận ra rằng toàn bộ bờ biển phía bắc California không được phòng thủ và có nhiều nắng hơn Siberia hay Alaska, vì vậy ông nảy ra kế hoạch mở rộng lãnh thổ của Nga ở Bắc Mỹ tới California.

Năm 1812, sau nhiều năm âm thầm khảo sát bờ biển, 25 người Nga và 80 thợ săn bản địa Alaska đã tới định cư trên một cao nguyên thoai thoải nhìn ra Thái Bình Dương, nơi vùng bờ biển gồ ghề nay thuộc hạt Sonoma.

Tại đây, đủ gần với quần thể rái cá biển phong phú của khu vực nhưng đủ xa vùng biên giới phía bắc được phòng thủ sơ sài của Đế quốc Tây Ban Nha, họ sống trong một khu định cư được thiết kế theo kiểu Siberia, dựng bằng gỗ tùng đỏ California, dưới lá cờ đại bàng hai đầu của Sa hoàng.

Khám phá thuộc địa California của Nga

Ngày nay, thuộc địa xa xôi của Nga ở California vẫn là một nơi đơn độc, kỳ lạ.

Nằm cách thị trấn hoặc dịch vụ điện thoại di động gần nhất 19km, những dấu tích bằng gỗ đã phong hóa của một khu định cư từng nhộn nhịp này hướng ra biển, với tầm nhìn rộng 180 độ.

Trong hai ngày tại Công viên Lịch sử bang Fort Ross rộng 3.400 mẫu Anh, tôi đếm được 14 du khách khác, và ngoại trừ tiếng chuông thỉnh thoảng vang lên từ nhà nguyện St Nicholas, âm thanh duy nhất phá vỡ sự tĩnh lặng là tiếng sóng vỗ bên dưới vách đá.

"Có một cảm giác ma mị tại Fort Ross," Robin Joy Wellman, người từng làm nhân viên thuyết minh cho Cơ quan quản lý Công viên bang California trong gần 30 năm, nói. "Nó có phần bí ẩn, nhưng một khi mọi người khám phá ra nơi này, họ nói đây là một trong những nơi đẹp nhất mà họ từng đến."

Khung cảnh ấn tượng của địa điểm này nằm vắt qua đứt gãy San Andreas, và cũng chính trận động đất san phẳng San Francisco vào năm 1906 đã phá hủy phần lớn tiền đồn bằng gỗ ban đầu.

Nhưng các khu trưng bày chi tiết trong pháo đài Fort Ross được phục dựng một phần đã vẽ nên một bức tranh sống động về cuộc sống nơi biên giới ở vùng Viễn Đông hoang dã của nước Nga.

Trung tâm của thuộc địa này là hàng rào kiên cố như pháo đài, nơi một số ít binh lính, sĩ quan và quan chức cấp cao của Nga sống trong doanh trại được bao quanh bởi hàng rào cao 3,6 mét.

Tôi theo Kimsey lên những bậc thang của hai lô cốt được trang bị đủ đại bác để kiểm soát toàn bộ bờ biển.

Ông giải thích rằng trong khi người Nga chọn vị trí quan sát tự nhiên này để phòng thủ trước các cuộc tấn công của Tây Ban Nha, hai đế quốc này chưa bao giờ thực sự xung đột và thậm chí còn phụ thuộc vào nhau để tồn tại.

"Người Nga và người Tây Ban Nha đều ở những vùng biên giới xa xôi nhất của đế chế đã trải rộng quá mức của họ. Cả hai đều cần những thứ mà phía bên kia có thể cung cấp, vì vậy họ đã giao dịch bất hợp pháp," Kimsey nói.

Trong nhà kho, những bộ da rái cá biển đang được phơi khô, mỗi bộ trị giá 100 USD (tương đương một năm tiền lương của một nông dân Pennsylvania vào thời điểm đó), để chuyển tới Trung Quốc, châu Âu và California thuộc Tây Ban Nha, hẳn đã được treo trên các xà nhà.

Dưới mái vòm hình củ hành của một trong những nhà thờ Chính thống giáo cổ nhất ở Tây bán cầu, khu định cư nhỏ bé này dần phát triển thành một thuộc địa đa văn hóa, với đầy đủ nhà tắm hơi, tiệm bánh và khoảng 60 tòa nhà.

"Đó là một ngôi làng thương mại nhộn nhịp, đa dạng về ngôn ngữ, với nhiều người đến từ các quê hương khác nhau cùng chung sống," Lightfoot nói. "Hàng rào phòng thủ chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Hoạt động thực sự diễn ra bên ngoài."

Bên ngoài pháo đài

Khi Kimsey và tôi bước ra khỏi khu vực được bao quanh bởi hàng rào cọc gỗ, ông giải thích rằng khi thuộc địa này mở rộng và có gần 400 người vào những năm 1830, nơi đây đã trở thành một trong những khu vực đa dạng nhất California – và hầu như tất cả những người sống ở đó đều làm việc cho Công ty Nga-Mỹ.

Tại đây, nơi từng có một sloboda (làng) nằm ở rìa mũi đất, những thợ săn Aleut và Kodiak được trả công đã sinh sống cùng phụ nữ bản địa California. Những người Creole (lai Nga và châu Âu) kết hôn với người lao động Kashaya Pomo và Coast Miwok địa phương. Khi qua đời, họ đều được chôn cất cạnh nhau tại Nghĩa trang Nga Cổ (Old Russian Cemetery) trên sườn đồi phía trên.

So với các thuộc địa châu Âu khác, nơi đây cũng tương đối khoan dung.

"Người Nga không đến đây để 'khai hóa' như người Tây Ban Nha," Kimsey, người làm đầu mối liên lạc với các cộng đồng bản địa trong khu vực, nói.

Sau đó, chúng tôi đi theo một con đường dốc xuống một bãi biển hình lưỡi liềm, nơi những người thợ đóng thùng, thợ mộc và thợ rèn do Công ty Nga-Mỹ đưa đến từ những nơi xa xôi như Phần Lan và Hawaii từng làm việc cùng nhau.

"Đây là nơi những con tàu đi biển đầu tiên ở California được đóng," ông nói.

Đây cũng là nơi những viên gạch, thủy tinh và cối xay gió đầu tiên ở California được sản xuất.

Khi những người thợ đóng thuyền dài, rèn sắt, đúc đồng thau và chế tạo kim loại, Fort Ross trở thành trung tâm sản xuất ở California.

Người Nga trao đổi những hàng hóa rất được săn đón này với các nước láng giềng Tây Ban Nha và (sau này) Mexico để đổi lấy thêm lương thực và nhu yếu phẩm cho các khu định cư của họ ở Alaska – và bằng cách đó, họ vô tình giúp các đối thủ của mình định cư tại California.

Vịnh nước nông này cũng là nơi những thuyền chở hàng và những thợ săn di chuyển bằng thuyền kayak khởi hành đến cảng nước sâu chính của thuộc địa, cách 35km về phía nam tại Rumyantsev (ngày nay là Vịnh Bodega), và đến trạm săn hải cẩu ngoài khơi San Francisco trên quần đảo Farallon.

Khi phạm vi hoạt động của Fort Ross mở rộng, những lời kêu gọi từ bên trong Công ty Nga-Mỹ ngày càng mạnh mẽ hơn, yêu cầu Nga chấp thuận lời đề nghị của Rezanov về việc sáp nhập bờ biển phía tây Bắc Mỹ vào Nga.

Năm 1821, Sa hoàng Alexander I ban hành một sắc lệnh hoàng gia, tuyên bố Nga kiểm soát khu vực từ Oregon đến Alaska ngày nay.

John Quincy Adams, người khi đó sắp trở thành tổng thống thứ sáu của Mỹ, nhanh chóng phản đối và cảnh báo Nga rằng châu Mỹ "không còn là đối tượng cho bất kỳ sự thiết lập thuộc địa mới nào của châu Âu".

Điều này đã đặt nền móng cho một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ: Học thuyết Monroe, phản đối sự can thiệp của nước ngoài tại Tây bán cầu.

Từ bãi biển, Kimsey và tôi leo lên một ngọn đồi dốc, vượt qua hàng rào phòng thủ để đến vườn cây ăn quả mà người Nga bắt đầu bằng việc trồng một cây đào duy nhất vào năm 1814.

Chúng tôi mở cổng bước vào.

Trong số hàng trăm cây có múi và các loại cây trồng khác mà người Nga đã trồng, chỉ còn lại một cành duy nhất của một cây anh đào Capulin 200 năm tuổi.

Tuy vậy, trên thực tế, tại đây, người Nga đã để lại một di sản nông nghiệp lớn hơn nhiều so với những gì hầu hết mọi người nhận ra.

"Chính người Nga đã trồng những cây nho đầu tiên ở [khu vực nay là] hạt Sonoma vào năm 1817," Megan Jones, thủ thư phụ trách tư liệu về rượu vang của Sonoma, nói.

Như Jones giải thích, trong khi Sonoma hiện được coi là "nơi khai sinh của phong trào rượu vang Mỹ hiện đại", các thương nhân Nga đã đưa giống nho Mission, hiện nay rất hiếm, đến Sonoma và sản xuất những mẻ rượu vang đỏ nhẹ với số lượng nhỏ.

Tuy nhiên, bất chấp tất cả những đổi mới, Fort Ross không bao giờ đạt được hai mục tiêu chính: tạo ra lợi nhuận và bảo đảm lương thực cho những người Alaska đang đói.

Đến đầu những năm 1820, những thợ săn bản địa Alaska của Công ty Nga-Mỹ đã săn quá nhiều rái cá biển đến mức quét sạch quần thể địa phương.

Và sự kết hợp giữa sương mù dày đặc ven biển cùng chuột hoành hành khiến sản lượng lúa mì chỉ đạt 13 tấn mỗi năm trong giai đoạn 1826-1833.

Khi Công ty Hudson's Bay do Anh điều hành đồng ý cung cấp lương thực cho vùng Alaska thuộc Nga từ các khu định cư của công ty ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, bắt đầu từ năm 1839, đó là dấu hiệu mở đầu cho hồi kết của California dưới thời Nga Sa hoàng.

Hai năm sau, một người nhập cư Thụy Sĩ tên là John Sutter mua các tòa nhà và tài sản của Fort Ross từ người Nga với giá 30.000 USD.

Ông tháo dỡ một số phần của các công trình để sử dụng cho khu định cư mới của mình ở Sacramento.

Bảy năm sau khi người Nga trở về Alaska bằng đường biển, một phát hiện tình cờ trên khu đất của Sutter đã châm ngòi cho Cơn sốt vàng California.

Di sản California của nước Nga

Ngày nay, những dấu tích về quá khứ California dưới thời Nga Sa hoàng vẫn nằm rải rác khắp Bang Vàng (Golden State) khi lái xe từ San Francisco lên về phía bắc.

Một trong những khu phố nổi tiếng nhất của thành phố, Russian Hill (Đồi Nga), được đặt tên theo những ngôi mộ của các thủy thủ Công ty Nga-Mỹ được phát hiện tại đó trong thời kỳ Cơn sốt vàng (hãy tìm một tấm bia gần số 1120 phố Vallejo).

Một biển chỉ dẫn lịch sử tại Vịnh Bodega cho biết nơi người Nga ra khơi tới thủ phủ Alaska của họ, Novo-Arkhangelsk (ngày nay là Sitka).

Và hơn một triệu người đến Thung lũng Russian River (Sông Nga) mỗi năm để tắm biển, đi bộ đường dài và thưởng thức một số loại rượu vang ngon nhất nước Mỹ.

"Người Nga gọi con sông này là Slavyanka, và đây là một trong những tuyến đường thủy chính mà họ sử dụng để khai thác khu vực này," bà Suki Waters, một hậu duệ của người Kashaya Pomo và là chủ sở hữu của WaterTreks, công ty tổ chức các chuyến du lịch sinh thái dọc sông Russian, nói.

Khi chúng tôi chèo thuyền kayak ngang qua những con hải cẩu trên cảng và những con bồ nông di cư, bà kể lại những câu chuyện từ cụ cố của mình, người vẫn còn sống khi người Nga cập bến.

"Fort Ross từng là một làng đánh cá theo mùa có tên Metini trong hàng ngàn năm," bà nói.

"Khi người Nga lần đầu tiên đến, các bậc cao niên gọi họ là 'Những Người Dưới Biển', bởi vì nhìn từ vách đá trên cao, trông như thể họ trồi lên từ dưới đại dương."

Chiều hôm đó, tôi đi bộ trở lại qua những tấm biển chữ Cyrillic, khu pháo đài và sloboda của Fort Ross, hướng về một chiếc ghế băng đơn độc ở rìa vách đá.

Nhìn ra Thái Bình Dương, tôi tự hỏi sẽ mất bao nhiêu ngày để đến được nước Nga.

Nhưng khi tiếng chuông xa xôi từ nhà nguyện vang vọng trong không khí, tôi nhớ lại điều Wellman đã nói với mình.

"Thật đáng kinh ngạc khi một phần nhỏ của nước Nga từng ở ngay đây, tại California. Tại sao chúng ta lại muốn quên điều đó?"