Rủi ro thiếu điện ở Việt Nam có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng hai con số

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm đạt 9,01% trong khi sản lượng điện thương phẩm tăng 10,75% so với cùng kỳ, gây áp lực lên ba tháng cuối năm nhằm bảo đảm mục tiêu hai con số.
Nhưng Bộ Công thương, trong cuộc họp báo vào chiều 7/10, nói rằng tăng trưởng, về sản xuất công nghiệp, vốn chiếm hơn 41% GDP, vẫn tiềm ẩn rủi ro giảm tốc do môt số yếu tố như đơn hàng của doanh nghiệp, sức mua của thị trường và một yếu tố khác là tiến độ bổ sung nguồn điện.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho biết doanh nghiệp này bảo đảm cung ứng đủ điện nhu cầu điện trong 3 tháng cuối năm, với mức tăng dự báo sẽ là 11,3%.
Tuy nhiên, hồi giữa tháng Chín, Bộ Công thương đã cảnh báo quốc gia này có thể đối mặt với việc thiếu hụt điện trong năm 2027.
Nguyên nhân được lý giải là do một số nhà máy chậm tiến độ, khiến cho Việt Nam có thể thiếu khoảng 2,9 tỷ kWh năm 2027.
Mức thiếu hụt được dự báo tăng lên 8.309 MW và 20,7 tỷ kWh vào năm 2028, trước khi lên 13.964 MW và 61,18 tỷ kWh vào năm 2030, theo một báo cáo được công bố hồi giữa tháng Chín.
Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 và giới chuyên gia nhận thấy để đạt được điều đó nhu cầu điện thương phẩm cũng phải tăng mạnh, luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP.
Để đạt được mục tiêu này, nhu cầu điện năng dự kiến tăng trưởng khoảng 12-14% mỗi năm.
Nguy cơ thiếu điện có thể khiến Việt Nam phải phụ thuộc nhiều hơn vào nhiệt điện than trong những năm tới, trong bối cảnh các dự án nhiệt điện mới cần thời gian để xây dựng và đưa vào vận hành và thủy điện có thể chịu ảnh hưởng trực tiếp của El Niño, theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Điều này đặc biệt quan trọng ở miền Bắc, nơi nhu cầu điện tăng nhanh nhưng khả năng bổ sung nguồn điện mới còn hạn chế.
Bộ Công Thương dự báo miền Bắc có thể thiếu khoảng 5.680 MW công suất và 2,9 tỷ kWh điện trong năm 2027.
Một số dự án nguồn điện công suất lớn vẫn đang trong quá trình triển khai và chưa thể bổ sung công suất ngay cho hệ thống
Trong số này có nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I, công suất 1.403 MW, dự kiến vận hành thương mại hai tổ máy trước cuối năm 2026.
Dự án LNG Quảng Trạch II, công suất khoảng 1.500 MW, dự kiến khởi công trong tháng 11/2026, với mục tiêu vận hành vào năm 2029.
Dự án LNG Quảng Trạch III, cũng khoảng 1.500 MW, hiện vẫn ở giai đoạn hoàn thiện thủ tục đầu tư.
Các dự án thủy điện Trị An mở rộng và thủy điện tích năng Bác Ái đang được thi công.
Số liệu của EVN cho thấy điện than hiện hiện là nguồn phát điện lớn nhất của Việt Nam.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện thương phẩm đạt 265,79 tỷ kWh, trong đó nhiệt điện vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất, với 49,9%. Thủy điện xếp thứ hai với 25,8% trong khi năng lượng tái tạo đứng thứ ba, với 12,6%.
Trong 9 tháng đầu năm, Việt Nam cũng đã nhập khẩu 10,3 tỷ kWh, chiếm 3,9% tổng sản lượng điện thương phẩm.
Bộ Công thương cũng nêu ra một vấn đề khác là khả năng truyền tải điện giữa các vùng, theo đó nguồn điện ở miền Trung và miền Nam không phải lúc nào cũng có thể được truyền ra miền Bắc với công suất tối đa, do những giới hạn của hệ thống truyền tải liên miền.
Trong khi đó, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia dự báo El Niño tiếp tục duy trì đến đầu năm 2027, với xác suất hiện tượng này đạt cường độ mạnh đến rất mạnh ở mức 95% trong giai đoạn tháng 11/2026 đến tháng 1/2027.
Điều này có thể tiếp tục gây áp lực lên nguồn nước cho thủy điện trong những tháng đầu năm 2027, khi Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia dự báo lượng mưa trong tháng 2–4/2027 phổ biến thấp hơn mức trung bình nhiều năm.
Nếu thủy điện giảm sản lượng trong khi nhu cầu điện tiếp tục tăng, phần thiếu hụt cần được bù bằng các nguồn khác.
Trong ngắn hạn, nhiệt điện than có lợi thế vì nhiều nhà máy đã sẵn sàng vận hành và không phụ thuộc trực tiếp vào lượng mưa hay mực nước hồ, theo EVN.
Theo The Investor - trang tin tức kinh tế - tài chính bằng tiếng Anh của Việt Nam - trong một phân tích ngày 6/10, El Niño đang cải thiện triển vọng của nhóm doanh nghiệp nhiệt điện than Việt Nam.
Theo bài viết, khi thủy điện suy giảm, các nhà máy điện than có thể được huy động nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu.
Nhiệt điện Quảng Ninh và Nhiệt điện Phả Lại có thể hưởng lợi từ sản lượng huy động cao hơn và giá điện trên thị trường phát điện cạnh tranh tăng.
Việc tăng cường huy động điện than cho thấy Việt Nam đang gặp thách thức trong việc thúc đẩy năng lượng tái tạo và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Theo Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, Việt Nam chưa loại bỏ nhiệt điện than- nguồn phát thải carbon lớn - trong ngắn hạn.
Đến năm 2030, công suất nhiệt điện than dự kiến vẫn ở mức khoảng 31.055 MW.
Tuy nhiên, Việt Nam sẽ không tiếp tục phát triển thêm các dự án than ngoài những dự án đã được quy hoạch và đang đầu tư, đồng thời định hướng chuyển đổi các nhà máy than sang sinh khối hoặc amoniac và tiến tới không còn sử dụng than để phát điện vào năm 2050.
Về dài hạn, việc giảm sự phụ thuộc vào than sẽ đòi hỏi Việt Nam đẩy nhanh phát triển các nguồn điện mới, mở rộng lưới truyền tải, tăng công suất năng lượng tái tạo và phát triển các hệ thống lưu trữ điện, theo Bộ Công thương.
Quy hoạch điện 8 điều chỉnh được phê duyệt vào giữa tháng 5/2023, trong đó xác định giai đoạn 2021 - 2030 cần hơn 134 tỷ USD đầu tư phát triển nguồn điện.






















